HÁN TỰ

KHI THẾ GIỚI NGẬP TRÀN TÍNH “MẪU”

Đà Nẵng mấy hôm rày trộ những cơn mưa nhỏ vào khoảng chiều tối. “Hôm rày” là phương ngữ miền Nam, không hiểu sao nó bỗng thoáng qua tôi khi nghĩ về cơn mưa. Có lẽ là vì, cũng trong khoảng thời gian nay, tôi đương nhớ những cơn mưa đầu mùa xứ phương nam, nơi mình đã từng hơn 10 năm gắn bó.

Chị dâu thứ của tôi cũng đến từ phương Nam. Trong khi đó, chị dâu trưởng thì người Bắc, tôi lại lấy chồng người miền Trung, xứ khô nắng Tháp Chàm. Nhiều lúc tôi nói giỡn với mạ tôi là nhà mình ba miền đủ cả, đa văn hóa vùng miền. Có khi mạ cười, có khi mạ trề môi theo kiểu thể hiện đặc trưng của người nước Huệ.

Kể từ khi mạ tôi có dâu, quân số nữ nhà tôi tăng thêm 6 nữ, hai nàng dâu, và 4 cô cháu gái. Trong đó có đến 3 cô của anh đầu, có người thấy “tội”, tôi lại thấy ổng quá may. :))

Nữ trong Hán tự là một chữ tượng hình – 女 – chỉ hình dáng một người nữ đang quỳ gối. Nếu nhìn qua chữ cổ của chữ này sẽ thấy cái bao quanh người nữ là những giọt nước. Những giọt nước ở đây được lí giải là rượu, thứ giúp thanh lọc người phụ nữ khi phụng sự thần thánh.

Nói cách khác, chữ nữ có hình dáng một người phụ nữ đang quỳ, nhưng không phải là quỳ trước đàn ông như nhiều cách lí giải thiên kiến bây giờ, mà là trước các vị thần.

Trước khi tồn tại chế độ phụ hệ sau này, thế giới vào thời kì cổ đại đã được vận hành bởi các người “nữ”.

Thần mặt trời được xem là tổ tiên của các Thiên hoàng Nhật Bản là một nữ thần.

Vị thần xứ sở của người Chăm cũng là một nữ thần, Pô Inư Nưgar.

Ngoài ra, có rất nhiều vị thần quan trọng khác thuộc những nền văn hóa khác cũng là nữ giới.

Vậy thì với một bề dày lịch sử Hán tự hơn 3000 năm, lí nào lại cho chữ nữ là hình ảnh của một người nữ đang quỳ gối trước nam giới?!

Có vẻ như tôi hơi ra ngoài lề, xin được phép quay về các nàng dâu nhà tôi. Mạ tôi hay nói rằng đàn bà xuất giá tòng phu. Tôi thường cười nói, may quá con chẳng phải tòng ai cả (vì tôi lấy người Chàm, theo mẫu hệ).

Chữ giá trong Hán tự là 嫁,  chỉ người con dâu, cũng có ý nghĩa tương tự như chữ nữ. Bên trái của nó là chữ “nữ/女” , bên phải là chữ “gia/家”. Chữ gia được kết hợp bởi hai thành phần, bên trên là  bộ miên/宀  – chỉ mái che, bên dưới là chữ 豕/thỉ, nghĩa là con lợn hay súc vật. Theo phong tục thời xưa, người ta thường chôn súc vật với mục đích thanh lọc cho ngôi nhà. Do đó, “gia/家” chỉ đến cái miếu (廟) dùng để cúng tế tổ tiên, “giá/ 嫁” mang ý nghĩa chỉ một người người nữ đang cúng tổ tiên ở miếu.

Mạ/mẹ/má trong Hán tự là “mẫu/母”. Mẫu là chữ tượng hình, cũng xuất phát từ chữ nữ. “Mẫu” chỉ hình ảnh một người phụ nữ đang quỳ xuống với hai nét bên tượng trưng cho núm vú, gợi nên tình cảnh một người nữ đang vừa ôm đứa bé sơ sinh trên cánh tay vừa dịu dàng cho con bú.

Mẹ cho ta sữa, mang ý nghĩa đấng sinh thành, người nuôi lớn ta nên người từ hòn máu đỏ. Thế nhưng, một đứa trẻ sơ sinh cần đâu chỉ là sữa mẹ. Cái nó cần hơn hết chính là nhu cầu được ở bên mẹ, cảm mẹ, cảm tình thương dịu dàng. Theo đó, chữ “mẫu” còn hàm ý một ý nghĩa đặc biệt hơn, chỉ một đặc tính, một tinh thần mà người mẹ truyền cho người con – sự bình ổn về mặt tâm trí.

Nói đến đây bỗng nhớ ra mai là chủ nhật thứ nhì của tháng 5 rồi, Ngày của Mẹ hàng năm.

Mừng cho các chị em bạn nữ của tôi – những người mẹ – trong ngày đặc biệt này.

Hãy nghĩ về đấng sinh thành của mình trong ngày này.

Đồng thời khi đó, xin hãy thử cảm “tính mẫu” đang tan chảy bên trong.

Ánh Hiền, 12/5/2019

—————————————————————————————————————————————————————–

Cách lí giải về các chữ Hán trên tôi có sự tham khảo sách bên dưới:

Hán tự thông dụng giải nguyên – Shirakawa Shizuka

Ảnh đầu bài viết: Chân dung người đàn bà cho cho con bú – Paul Cezanne Post Views: 310

Related Posts

No Comments

Leave a Reply